TVV KÍNH CHÀO QUÝ KHÁCH

Menu

Browsing "Older Posts"

BÀI VIẾT "SẢN PHỤ KHOA"

Mắc bệnh phụ khoa khi mang thai có nguy hiểm?

/ No Comments
SKĐS - Trong quá trình thai nghén nhiều thai phụ thấy ngứa vùng kín, ra khí hư bất thường... nhưng do chủ quan hoặc sợ việc điều trị ảnh hưởng tới em bé, nên thường chần chừ thậm chí không đi khám. Đây là một quan niệm sai lầm vì bệnh viêm nhiễm phụ khoa khi mang thai có thể ảnh hưởng xấu đến thai kỳ, ở trường hợp nặng có thể gây sảy thai, sinh non.
Khi mắc bệnh phụ khoa có nguy hiểm?
Đối với phụ nữ mang thai giai đoạn này, phụ nữ rất dễ bị viêm nhiễm ở vùng kín do nồng độ tiết tố trong thời kỳ mang thai thường tăng cao hơn bình thường. Nội tiết tố tăng cao, nồng độ pH trong môi trường vùng kín thay đổi, các loại vi khuẩn và nấm kí sinh theo đó mà phát triển nên rất dễ bị các bệnh lý về phụ khoa. Điều này ảnh hưởng đến cả mẹ lẫn thai nhi. Cụ thể, nếu thai phụ mắc bệnh phụ khoa do nấm, chlamydia trong thời kỳ này thai phụ sẽ bị nóng rát, ngứa ở vùng kín, đau bụng, nặng hơn gây viêm màng ối dễ sinh non, lây truyền nấm cho em bé. Do đó, trước khi có ý định mang thai, cần đi khám sức khỏe tổng quát cũng như phụ khoa, chữa dứt điểm các bệnh viêm nhiễm vùng kín, phần phụ, để đảm bảo an toàn cho mẹ và con sau này.
Mắc bệnh phụ khoa khi mang thai có nguy hiểm?

Khám thai định kỳ tại nhà cho chị em tại xã Phước Thành, huyện Bác Ái (Ninh Thuận).
Vệ sinh đúng cách để phòng bệnh
Để tránh các bệnh viêm nhiễm “vùng kín” khi mang thai, chị em cần giữ vệ sinh tốt, mặc đồ lót bằng chất liệu cotton. Khi thấy bất kỳ biểu hiện bất thường nào cần đi khám bác sĩ. Không tắm bằng bồn lâu; không ngâm mình trong nước ao, hồ hoặc những vùng nước bẩn khác.
Nên dùng nước ấm để làm sạch “vùng kín”. Không dùng xà phòng có tính sát khuẩn cao, không nên dùng thường xuyên dung dịch vệ sinh để rửa “vùng kín” vì các hóa chất trong dung dịch sẽ tiêu diệt các vi khuẩn có lợi, làm mất độ pH tự nhiên trong môi trường âm đạo, dễ gây khô rát, khó chịu.
Sau khi đi vệ sinh hoặc đi tiểu, cần làm sạch “vùng kín” bằng cách lau khô bằng khăn bông chuyên dụng. Khăn bông cần được thay giặt hàng ngày. Tuyệt đối không thụt rửa sâu trong âm đạo, nhất là phụ nữ có thai vì dễ gây tổn thương cho vùng âm đạo và xuất huyết tử cung. Tránh giao hợp ở những tuần đầu mang thai và tháng cuối cùng vì sẽ nguy hiểm tới thai nhi, có thể dẫn tới sinh non. Trước và sau khi quan hệ, hai vợ chồng cần phải vệ sinh cơ quan sinh dục sạch sẽ. Tốt nhất người chồng nên dùng bao cao su, không xuất tinh vào trong âm đạo. Nếu có dấu hiệu bị viêm nhiễm như ngứa, dịch âm đạo có mùi hôi... thì nên đi khám phụ khoa để được thăm khám và điều trị kịp thời.
Điều lưu ý, các thai phụ khi mắc bệnh viêm vùng kín, phải tới ngay cơ sở y tế để được xét nghiệm, chẩn đoán. Tuyệt đối không được tự chữa trị khi chưa có hướng dẫn của các bác sĩ. Việc điều trị phụ khoa cho phụ nữ có thai sẽ được bác sĩ cân nhắc cẩn trọng để chọn cách phù hợp không ảnh hưởng tới thai nhi, vì vậy chị em không cần quá lo lắng và phải tuân thủ theo đúng chỉ định cũng như tái khám để biết bệnh đã được điều trị dứt điểm.
BS. Thu Hà

Những hiểu lầm thường gặp về siêu âm trong thai kỳ

/ No Comments
SKĐS - Mặc dù siêu âm thường được sử dụng trong các giai đoạn khác nhau của thai kỳ, nhưng có rất nhiều quan niệm sai lầm về siêu âm. Trên thực tế, siêu âm là an toàn và cần được khuyến khích để theo dõi quá trình mang thai. Dưới đây là 5 quan niệm sai lầm thường gặp về siêu âm trong thai kỳ.

Bức xạ có hại
Nhiều người cho rằng siêu âm phát ra bức xạ nguy hiểm, không an toàn cho thai nhi. Siêu âm là một loạt sóng âm thanh với mật độ khác nhau chuyển đổi thành hình ảnh bạn nhìn thấy trên màn hình siêu âm. Trên thực tế, siêu âm giúp phát hiện những bất thường và theo dõi sự phát triển của bào thai. Siêu âm 3-4 chiều là bắt  buộc sau 12 tuần vì lúc này cơ thể bé đã hình thành.
Siêu âm cũng giống như X-quang
Chụp X-quang và siêu âm là hai thủ thuật khác nhau. Mọi người thường hay nhầm lẫn hai thủ thuật này. Chụp X-quang có sóng ánh sáng và siêu âm có sóng âm thanh. Siêu âm không gây hại cho thai nhi như X-quang.
Siêu âm có thể dẫn đến chậm phát triển
Nhiều người nghĩ rằng nếu siêu âm nhiều lần sẽ dẫn đến chậm phát triển thai nhi. Trên thực tế, siêu âm giúp phát hiện những bất thường hoặc chậm phát triển của thai nhi, nếu có, và cũng giúp bác sĩ chỉ định điều trị đúng. Siêu âm hoàn toàn không gây hại cho thai nhi. Các bác sĩ khuyến nghị phụ nữ mang thai ít nhất phải siêu âm 3-4 lần trong thai kỳ để đảm bảo con bạn an toàn và khỏe mạnh.
Siêu âm qua âm đạo có thể dẫn tới sảy thai
Siêu âm qua âm đạo là loại siêu âm chỉ thực hiện ở giai đoạn đầu của thai kỳ khi cơ thể bé chưa hình thành và khó phát hiện với máy siêu âm bình thường. Sau khi bạn nghe được nhịp tim và phát hiện thấy bé trong 5 tuần đầu tiên thì có thể chuyển siêu âm ổ bụng. Bạn không cần phải sợ hãi thủ thuật này.
Siêu âm chỉ để xác định giới tính
Siêu âm được thực hiện vì nhiều lý do và trên hết là vì sự phát triển của thai nhi chứ không chỉ về giới tính của thai nhi.

BS Tuyết Mai
(Theo THS)

Xử trí những phiền toái ở vú sau sinh

/ No Comments
SKĐS - Sau khi sinh, thai phụ thường có hiện tượng bầu vú căng và đau, sữa không chảy ra được do ống tuyến sữa bị tắc, nứt núm vú và tụt đầu vú...
Sau khi sinh, thai phụ thường có hiện tượng bầu vú căng và đau, sữa không chảy ra được do ống tuyến sữa bị tắc, nứt núm vú và tụt đầu vú... lần đầu làm mẹ, với biết bao bỡ ngỡ, đau nhức, lo lắng. Để không làm ảnh hưởng đến nguồn sữa cho bé và sức khỏe của mẹ, bài viết dưới đây sẽ giúp bạn xử trí đúng cách những hiện tượng thường gặp ở bầu vú sau sinh.

Bầu vú căng, đau, tắc tia sữa

Vài ngày sau sinh, bà mẹ cảm thấy vú nóng, nặng và cứng. Sữa bắt đầu được tiết ra, đồng thời ống lym-phô ở tuyến vú và mạch máu căng lên chèn vào các tuyến vú làm các tia sữa trong tuyến vú bị nghẽn lại đôi khi vú căng sữa có cảm giác như nổi cục, mặc dù dịch sữa vẫn được tiết ra. Ðây là hiện tượng căng sữa bình thường, khi người mẹ cảm thấy bầu vú bị cương lên, hơi đau thì nên cho trẻ bú nhiều lần để hút bớt sữa ra, hoặc dùng tay nắn nhẹ vắt sữa ra. Trong vòng 1 - 2 ngày, vú mẹ sẽ tự điều chỉnh theo nhu cầu của trẻ và sẽ hết căng.
Xử trí những phiền toái ở vú sau sinh

Nhân viên y tế hướng dẫn bà mẹ cho con bú đúng cách.
Nếu bầu sữa cương cứng, đau, có thể dùng bơm hút sữa hoặc cho trẻ lớn hơn, khỏe hơn bú ngay từ lúc mới tắc, vú sẽ mềm dần.
Nếu vú bị căng to, càng lúc càng to dần, sờ đau, cứng rắn, bề mặt da đỏ, nóng rực, sản phụ có thể hơi hâm hấp sốt... Trong trường hợp này, nên dùng một bàn tay đè ép bầu vú lên thành ngực hoặc dùng hai bàn tay ép vào nhau. Vừa ép vừa day sẽ làm tan các vị trí sữa đã đông kết. Bởi vì chỉ có lực day ép mới có tác dụng đối với vị trí tắc nằm ở sâu trong bầu vú và mới có thể làm tan sữa đã đông kết, day từ từ theo vòng tròn, tăng dần, khoảng 20 lần, rồi lại làm ngược lại, làm nhiều lần. Mặt khác vừa day, vừa chườm ấm bầu vú giúp cho sữa đông kết tan dần, tình hình sẽ dần được cải thiện và bạn có thể sử dụng kết hợp với máy hút sữa để hút sữa ra.
Hiện nay, một số bệnh viện, có sử dụng đèn hồng ngoại và đèn chiếu ánh sáng xanh giảm tác động của việc tắc tia sữa, cương sữa, giúp thông tia, làm mềm bầu vú. Do vậy trong trường hợp cấp thiết, thai phụ nên đến bệnh viện để thầy thuốc thăm khám và xử trí kịp thời, tránh những biến chứng không đáng có.

Nứt núm vú và tụt đầu vú

Thông thường đầu vú nhô cao lên trên bề mặt của quầng thâm bầu vú. Khi mang thai, đầu vú càng to hơn, càng nhô hẳn lên. Trường hợp nếu đầu vú tụt sâu vào trong, trẻ sẽ không thể bú được. Sữa bị tích đọng trong vú gây tắc tia sữa, viêm tuyến sữa. Do đó, trong thai kỳ, thai phụ cần chăm sóc bầu vú cẩn thận, lau rửa sạch đầu vú bằng nước sạch mỗi ngày. Nếu thấy đầu vú tụt vào, bạn có thể dùng tay kéo nhẹ đầu vú ra ngoài, công việc này cần thực hiện đều đặn và làm hằng ngày. Sau khi sinh, nếu đầu vú tụt vào trong, ảnh hưởng đến việc bú sữa của trẻ và sức khỏe của mẹ, có thể dùng bơm hút để hút sữa ra. Nếu núm vú bị xước hoặc rạn nứt thì nên làm ẩm ướt đầu vú bằng dầu cá, dầu gấc bôi lên đầu vú. Không rửa vú bằng xà phòng và không bôi cồn.

Viêm tuyến sữa

Trong thời kỳ cho con bú thai phụ rất dễ bị viêm tuyến sữa do vi khuẩn xâm nhập vào mô vú gây ra, thông qua vết nứt trên núm vú. Đó là khi thai phụ cho con bú không đúng cách, sữa tích tụ lại. Tư thế cho bú không đúng làm trẻ khó bú, khiến trẻ không nhận được sữa, trẻ có thể làm tổn thương vùng da (nứt) đầu núm vú do trẻ day đi day lại hoặc lôi kéo núm vú; hoặc do núm vú tụt vào hoặc bằng phẳng quá, trẻ sẽ cắn mút đầu vú, hình thành nên những vết thương nhỏ và loét rộng ra, hoặc do sản phụ phải nặn sữa nhưng chưa biết cách nặn khiến núm vú bị tổn thương tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn bên ngoài xâm nhập được vào tuyến sữa qua vết nứt của đầu vú dẫn đến viêm tuyến sữa.
Biểu hiện chủ yếu khi bị viêm tuyến sữa là bên vú bị viêm, sưng, ấn thấy đau, sữa tiết ra không thông suốt, da vú hơi đỏ, người bệnh có cảm giác sốt, sợ rét. Nặng hơn sẽ sốt, đau đớn rất khó chịu, tuyến sữa có mủ,... Nếu không được điều trị sẽ có thể dẫn đến biến chứng bại huyết, áp-xe vú... Do đó các bà mẹ cần chú ý ngay từ khi có biểu hiện sữa không thông (tắc tia sữa), vú cương đau, khi cho con bú cần dùng tay hoặc dùng dụng cụ hút sữa hút hết sữa thừa còn lại ở hai bên vú, vệ sinh vú thường xuyên trước khi cho trẻ bú. Nếu đầu vú đã bị nứt, bầu vú sưng đỏ, sốt,... thì tạm thời dừng cho con bú và đi khám ngay để bác sĩ chỉ định dùng thuốc chữa viêm, không nên để kéo dài tránh biến chứng.
Lời khuyên của thầy thuốc

Việc cho con bú sau sinh thường hay gặp những phiền toái nhất định, sữa lưu ứ lại trong vú mẹ gây nên những trục trặc ở núm vú và bầu vú. Khi vú quá căng, một phần do các mô bị phù nề làm cản trở lưu thông sữa, ống dẫn sữa đã bị tắc.

Một phần do trẻ ngậm bắt vú không đúng cách, cữ bú ngắn, nên sữa đã không được hút ra tốt. Vậy để tránh được những trục trặc ở bầu vú sau sinh, các bà mẹ cần chú ý đến việc cho trẻ ngậm bắt vú đúng cách: Khi cho con bú, các bà mẹ bế trẻ ở tư thế thoải mái, để toàn thân trẻ sát vào người mẹ, miệng trẻ ngậm sâu vào quầng đến bao quang núm vú, cằm tỳ vào bầu vú mẹ. Trẻ bú đúng cách sẽ giúp mẹ không bị đau rát, không bị nứt núm vú, không căng tức sữa, cải thiện sự lưu thông của sữa giảm đau nhức, viêm tuyến vú. Trẻ bú đúng sẽ giúp trẻ nhận được nhiều sữa, chắc chắn trẻ sẽ lớn lên khỏe mạnh, thông minh và phát triển tốt cả về thể chất và tinh thần thông qua sữa mẹ.
ThS. Lê Thị Hương

Bệnh ở tử cung: Những điều cần biết

/ No Comments
SKĐS - Tử cung là bộ phận sinh sản quan trọng nhất của phụ nữ. Nhưng lại rất dễ bị tổn thương và gặp phải các bệnh viêm nhiễm hoặc u…
Tử cung là bộ phận sinh sản quan trọng nhất của phụ nữ. Nhưng lại rất dễ bị tổn thương và gặp phải các bệnh viêm nhiễm hoặc u… Những bệnh này đều ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của phụ nữ. Tuy nhiên, bệnh lại có thể phòng tránh và điều trị được nếu chị em biết cách tầm soát sớm…

Viêm cổ tử cung

Viêm cổ tử cung là tình trạng viêm nhiễm ở bộ phận sinh dục nữ thường gặp nhất trong độ tuổi sinh sản. Bệnh có nhiều biến chứng nguy hiểm nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.
Nguyên nhân: Có 3 nguyên nhân chính gây nên tình trạng viêm nhiễm này đó là: Nhiễm nấm, ký sinh trùng virus lây nhiễm qua đường tình dục gây ra như lậu, chlamydia và Herpes sinh dục. Nếu không được chữa trị có thể gây viêm nhiễm cổ tử cung. Một số phụ nữ bị dị ứng với một số chất trong bao cao su hoặc các chất diệt tinh trùng cũng gây ra bệnh này. Ngoài ra, một số vi khuẩn thường trú trong âm đạo khi có tác động từ bên ngoài hoặc bên trong khiến chúng phát triển quá mức cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến bệnh viêm cổ tử cung ở chị em phụ nữ.
Bệnh ở tử cung: Những điều cần biết

Khi bị viêm lộ tuyến cổ tử cung sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của nữ giới.
Triệu chứng: Khi bị bệnh viêm cổ tử cung là âm đạo sẽ tiết ra nhiều dịch tiết màu vàng, đôi khi kèm theo mủ có mùi rất khó chịu. Người bệnh sẽ đi tiểu nhiều và khi đi tiểu có cảm giác đau rát. Bị đau khi quan hệ tình dục. Ngoài ra, chị em còn có biểu hiện chảy máu ngoài chu kỳ kinh nguyệt, trong khi giao hợp hoặc chảy máu sau khi mãn kinh.
Khi thấy có những biểu hiện trên chị em cần sớm đến các cơ sở y tế chuyên khoa để kiểm tra và kịp thời có những biện pháp chữa trị.
Phòng bệnh viêm cổ tử cung: Tuân thủ nguyên tắc một vợ một chồng để hạn chế các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, không nên có quan hệ tình dục quá sớm. Khi có quan hệ tình dục mà chưa muốn có thai thì cần lựa chọn biện pháp tránh thai phù hợp để tránh có thai ngoài ý muốn dẫn đến việc nạo hút thai cũng là nguyên nhân gây viêm cổ tử cung.

Viêm lộ tuyến tử cung

Lộ tuyến cổ tử cung là các tổn thương ở cổ tử cung do các tế bào tuyến nằm trong ống cổ tử cung phát triển ra ngoài, xâm lấn mặt ngoài của cổ tử cung. Do các tế bào tuyến lộ ra ngoài vẫn tiết dịch như khi ở trong cổ tử cung nên bệnh nhân thường có hiện tượng tăng tiết dịch trong âm đạo, dễ dẫn đến viêm nhiễm.
Nguyên nhân: Do bị lộ ra ngoài niêm mạc nên các tuyến dễ bị viêm nhiễm do vi trùng, nấm, ký sinh trùng hay các tạp trùng. Viêm lộ tuyến cổ tử cung còn do các bệnh lây truyền qua đường tình dục gây nên. Ngoài ra, bệnh cũng thường gặp ở những trường hợp: Thay đổi môi trường pH của âm đạo, cường estrogen làm tăng sinh các tế bào, hoạt động tình dục mạnh bạo, dùng thuốc ngừa thai có nhiều estrogen, sinh đẻ nhiều, tổn thương đến niêm mạc tử cung do nạo hút thai, sảy thai…
Triệu chứng: Thường không có dấu hiệu gì đặc biệt và hay bị nhầm lẫn với các bệnh phụ khoa khác. Dấu hiệu đặc trưng nhất khi bị viêm lộ tuyến cổ tử cung là khí hư ra nhiều một cách bất thường, có thể có màu trắng đục, dính từng mảng, đôi lúc có mùi hôi hoặc có màu vàng xanh, loãng, có bọt…Trong trường hợp viêm lộ tuyến nặng, một số chị em có thể bị xuất huyết nhẹ sau giao hợp.
Mặc dù đây là một tổn thương lành tính, nhưng bệnh viêm lộ tuyến cổ tử cung có thể đẩy nhanh sự phát triển của nhiễm khuẩn ở cổ tử cung và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác. Đồng thời đây cũng là nguyên nhân chính gây viêm cổ tử cung, sau đó viêm ngược dòng lên, gây viêm tắc vòi trứng, viêm nội mạc tử cung, viêm tiểu khung...
Một số trường hợp, lộ tuyến cổ tử cung có thể gây vô sinh vì lộ tuyến làm cho lượng dịch trong âm đạo nhiều hơn bình thường, khiến cho tinh trùng khó di chuyển qua để gặp trứng. Hơn nữa, nó còn làm cho độ pH trong âm đạo thay đổi theo hướng bất lợi cho tinh trùng, có thể tiêu diệt tinh trùng ngay khi vừa vào đến âm đạo.
Bệnh viêm lộ tuyến cổ tử cung tùy theo từng trường hợp mà các bác sĩ sẽ có phương pháp điều trị phù hợp như: đặt thuốc ở âm đạo, uống thuốc hoặc dùng các biện pháp diệt tuyến như đốt điện, áp lạnh... Mặc dù là bệnh lành tính, nhưng nếu không được điều trị kịp thời rất dễ tái phát và gây biến chứng nguy hiểm.
Phòng bệnh: Vệ sinh bộ phận sinh dục để tránh viêm nhiễm lây lan từ bộ phận sinh dục ngoài lên tử cung, vòi trứng, gây viêm tắc vòi trứng nguy cơ dẫn đến vô sinh; quan hệ tình dục lành mạnh; khám phụ khoa định kỳ 6 tháng/lần.

Polyp tử cung

Polyp tử cung là sự phát triển quá mức của niêm mạc tạo thành khối u dính vào thành trong lòng của tử cung và sa vào buồng tử cung. Tùy sự phát triển của khối u và thời gian phát hiện ra bệnh mà kích cỡ của u khác nhau. Bệnh thường biểu hiện hành kinh ra máu quá nhiều, rong kinh, chảy máu sau thời kỳ mãn kinh, kinh nguyệt thất thường… Đây là nguyên nhân của những căn bệnh phụ khoa khác nguy hiểm hơn như lạc nội mạc tử cung, đa nang buồng trứng... Polyp tử cung nếu để quá lâu cũng có thể gây ra ung thư tử cung hoặc gây vô sinh, hiếm muộn. Do đó, biện pháp xử lý là chị em cần đi khám phụ khoa định kỳ để được phát hiện bệnh sớm và được điều trị kịp thời.

U xơ tử cung

U xơ cổ tử cung là những khối u lành tính ở tử cung.
Biểu hiện của bệnh: Vùng bụng dưới xuất hiện những cơn đau nhức. Những cơn đau có thể liên miên hoặc chia thành từng cơn, thường đau nhiều hơn vào trước, trong và sau chu kỳ kinh nguyệt; đau nhức sau khi giao hợp. Âm đạo xuất huyết bất thường ở giữa kỳ kinh. Kinh nguyệt ra ít hơn và rối loạn trong thời gian dài. Khi nằm ở tư thế ngửa có thể sờ thấy khối u nổi lên dưới lớp da bụng, khi day nhẹ có cảm giác đau.
Khi bị u xơ tử cung người bệnh thường bị đau, nhất là đau trong và sau khi giao hợp nên ảnh hưởng khá lớn tới đời sống hôn nhân, gây rối loạn kinh nguyệt, gây sảy thai, sinh non hoặc thai nhi bị dị dạng do khối u chèn ép; rối loạn các vấn đề sinh lý như hậu môn, trực tràng khiến người bệnh bị tiểu buốt, tiểu rắt hoặc táo bón. Bệnh u xơ tử cung làm tăng tỉ lệ vô sinh ở phụ nữ. Khi khối u quá to dẫn tới tình trạng chảy máu, rong kinh và không cầm được máu vô cùng nguy hiểm cho người bệnh.
Điều trị: Tùy thuộc vào mức độ phát triển của khối u. Nếu khối u có kích thước nhỏ thì biện pháp điều trị có thể dùng thuốc để kích thích làm teo khối u hoặc sử dụng kỹ thuật xoắn để néo chân u xơ rồi đưa u xơ ra ngoài từ cổ tử cung. Trường hợp khối u xơ lớn, phương pháp điều trị thường được áp dụng là sử dụng kỹ thuật xâm lấn thông qua việc phẫu thuật cắt bỏ khối u. Các bác sĩ sẽ tiến hành khám phụ khoa để xác định vị trí, kích thước của khối u. Sau đó sẽ tiến hành mổ lấy khối u ra ngoài.

Lạc nội mạc tử cung

Bệnh lạc nội mạc tử cung là bệnh lớp lót phía trong tử cung lại di chuyển lạc ra bên ngoài của tử cung và phát triển tại đó. Lớp lót này được coi như một cái “đệm” để nâng đỡ cho thai nhi nằm. Khi lớp nội mạc này ở “không đúng chỗ” và phát triển đến một lúc nào đó sẽ cho người bệnh cảm giác đau bụng dữ dội, cơ thể mệt mỏi nhất là trong thời kỳ kinh nguyệt. Xuất huyết bất thường, đau khi giao hợp là những biểu hiện thường gặp của bệnh lạc nội mạc tử cung.
Nguyên nhân của bệnh đó là khi hành kinh, máu kinh chảy ra ngoài mang theo những mảnh vụn của lớp lót này được bong ra ở thời kỳ hành kinh, nhưng việc nó chảy ra không sạch mà bị bám lại ở phía ngoài tử cung chính là nguyên nhân của lạc nội mạc tử cung. Quan hệ tình dục trong chu kỳ kinh nguyệt làm cho máu kinh đáng lý phải được thoát ra ngoài cơ thể lại bị chảy ngược vào trong hoặc ứ lại không chảy ra được khiến cho các mảnh vụn của nội mạc bị dính lại ở trong.
Bệnh ở tử cung: Những điều cần biết

Ảnh minh hoạ
Biến chứng nặng nề nhất của lạc nội mạc tử cung chính là vô sinh ở phụ nữ, (tuy nhiên, không phải lúc nào bệnh này cũng gây vô sinh cho phụ nữ); đau và mất máu quá nhiều gây suy nhược cơ thể.

U nang tử cung

U nang tử cung là những u xuất hiện ở trong tử cung giống như những túi nhỏ. Thường gặp ở phụ nữ đã có gia đình hoặc đã có quan hệ tình dục hoặc quan hệ tình dục không an toàn; người đã có tiền sử bị bệnh viêm loét tử cung, viêm âm đạo có nguy cơ cao dẫn tới u nang tử cung; do rối loạn nội tiết tố...
Cũng giống như các căn bệnh về tử cung khác, thì u nang là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vô sinh. Biến chứng nguy hiểm nhất của u nang tử cung chính là ung thư tử cung, ảnh hưởng tới tính mạng của người bệnh.

Ung thư tử cung

Ung thư tử cung thường do virus Papilloma (HPV) gây ra, hoặc do biến thể của những căn bệnh phụ khoa khác như: u nang tử cung, u xơ tử cung… Khi mắc bệnh này thì phụ nữ không thể mang thai dẫn đến vô sinh. Bệnh quá nặng có thể dẫn tới tử vong, các tế bào ung thư lây lan sang và hủy hoại các cơ quan khác.
Các yếu tố nguy cơ cao ảnh hưởng đến bệnh như: nạo phá thai nhiều lần, sẩy thai, quan hệ tình dục không an toàn, quan hệ tình dục quá sớm, sinh sản nhiều…
BS. Trần Cường

Giải quyết chứng rối loạn kinh nguyệt

/ No Comments
SKĐS - Rối loạn kinh nguyệt là những bất thường về kinh nguyệt có liên quan đến chu kỳ kinh hoặc một số triệu chứng kèm theo trong những ngày có kinh.
Rối loạn kinh nguyệt là những bất thường về kinh nguyệt có liên quan đến chu kỳ kinh hoặc một số triệu chứng kèm theo trong những ngày có kinh. Rối loạn kinh nguyệt có thể gặp ở tuổi bắt đầu thấy kinh hoặc mãn kinh với nhiều biểu hiện khác nhau. Là hiện tượng sinh lý bình thường, dễ nhận biết nhưng cơ chế tạo ra và điều hòa kinh nguyệt lại hết sức phức tạp. Nguyên nhân nào dẫn đến kinh nguyệt không đều hay rối loạn kinh nguyệt? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Các chứng rối loạn kinh nguyệt

Bất thường về chu kỳ kinh
Chu kỳ kinh còn gọi là vòng kinh có độ dài 28-30 ngày. Nếu kinh nguyệt có chu kỳ dài trên 35 ngày thì là kinh thưa, kinh nguyệt có chu kỳ ngắn dưới 22 ngày thì là kinh ngắn. Nếu vòng kinh chênh nhau từ 5 ngày trở lên thì gọi là kinh nguyệt không đều. Nếu có kinh lần đầu dưới 10 tuổi gọi là dậy thì sớm. Nếu sau 18 tuổi mới có kinh thì gọi là dậy thì muộn. Nếu quá 18 tuổi vẫn chưa có kinh lần nào thì gọi là vô kinh nguyên phát. Nếu đã từng có kinh đều mà sau 3 tháng không có kinh thì gọi là vô kinh thứ phát.
Giải quyết chứng rối loạn kinh nguyệt

Nhiều nguyên nhân dẫn đến rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ.
Bất thường về số ngày có kinh, tuổi kinh, khối lượng máu kinh
Mỗi kỳ hành kinh thường kéo dài 3-5 ngày. Nếu quá 7 ngày thì là bị rong kinh. Nếu chỉ dưới 2 ngày thì gọi là kinh ngắn. Nếu hết kinh khi chưa đến 40 tuổi thì gọi là mãn kinh sớm, sau 55 tuổi thì gọi là mãn kinh muộn. Lượng máu ở mỗi người hành kinh không giống nhau. Thông thường số lượng máu mất trung bình mỗi lần hành kinh từ 50-80ml. Nếu nhiều hơn 100ml thì gọi là kinh nhiều huyết (đa kinh, cường kinh)...
Người bị rối loạn kinh nguyệt có thể chỉ bị một trong số các triệu chứng trên nhưng cũng có khi nhiều rối loạn cùng có một lúc. Người bị rong kinh có thể kèm theo cường kinh, người có kinh nguyệt thưa có thể kèm theo kinh ngắn, kinh ít...

Nguyên nhân nào dẫn đến rối loạn kinh nguyệt

Do tình trạng cơ địa khác nhau nên chu kỳ kinh nguyệt ở mỗi người cũng có sự khác nhau. Tuy nhiên, tình trạng kinh nguyệt thất thường ở chị em phụ nữ có thể là do một số nguyên nhân như: Rối loạn hoạt động nội tiết tác động lên hệ thống dưới đồi, tuyến yên, buồng trứng làm cho chu kỳ kinh nguyệt sai lệnh gây nên kinh nguyệt không đều; Do mất cân bằng dinh dưỡng (rối loạn tiêu hóa, lạm dụng rượu bia, chất kích thích, chất gây nghiện, tăng cân hoặc giảm cân); Do bị stress (căng thẳng, lo âu, mệt mỏi, thay đổi môi trường sống); Do mắc các bệnh phụ khoa ở tử cung và buồng trứng như: u nang buồng trứng, đa nang buồng trứng, u xơ tử cung...
Trường hợp không có kinh nguyệt (vô kinh) có hai nguyên nhân:
Nguyên nhân nguyên phát: do bất thường ở bộ phận sinh dục hoặc các tuyến nội tiết liên quan đến hoạt động sinh dục khi sinh ra đã bị dị tật, không có tử cung, không có âm đạo hoặc không có vách ngăn âm đạo, màng trinh không thủng, bị teo tuyến yên, teo buồng trứng...
Nguyên nhân thứ phát: do dính buồng tử cung trong một số trường hợp như lao sinh dục, phá thai không an toàn, sau nạo hút thai, sau tháo vòng...
Một số bệnh cấp tính và mạn tính trong cơ thể đều có thể ảnh hưởng đến chu kỳ kinh nguyệt. Do đó, điều trị rối loạn kinh nguyệt cần phải dựa vào nguyên nhân gây bệnh để có phương pháp điều trị phù hợp và kịp thời.

Lời khuyên của thầy thuốc

Kinh nguyệt không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản mà còn ảnh hưởng tới chất lượng sống của phụ nữ. Do vậy, việc khám sức khỏe định kỳ hàng năm (6 tháng/lần) và thăm khám phụ khoa giúp kiểm soát tốt nguy cơ mắc bệnh và đảm bảo sức khỏe thể chất và tinh thần. Dinh dưỡng cân đối và hợp lý cung cấp đầy đủ các dưỡng chất cho cơ thể. Làm việc và nghỉ ngơi khoa học, tránh căng thẳng thần kinh và stress. Thực hiện tránh thai an toàn để không mang thai ngoài ý muốn phải nạo phá thai, để không phải đối mặt với những biến chứng nguy hiểm trong quá trình nạo hút thai có thể làm tổn thương mạch máu trong buồng tử cung và một số biến chứng khác. Chú trọng trong việc vệ sinh bộ phận sinh dục đúng cách. Khi bị rối loạn kinh nguyệt chị em cần đến cơ sở y tế thăm khám để được tư vấn và điều trị kịp thời.
ThS. Lê Thị Hương

Chia trứng - sẻ chia hạnh phúc, nhân đôi cơ hội

/ No Comments
KĐS - Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) chia trứng ngày càng phát triển rộng khắp trên thế giới.
Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) chia trứng ngày càng phát triển rộng khắp trên thế giới. Với nhiều lợi ích, sự chia sẻ trứng - sẻ chia hạnh phúc đã mang lại cơ hội có thai không những cho phụ nữ vô sinh trẻ chức năng buồng trứng tốt mà còn cho cả những phụ nữ không thể có con bằng chính trứng của mình; nhân đôi niềm hạnh phúc được làm cha, làm mẹ cho hàng nghìn cặp vợ chồng vô sinh trên thế giới.
Ngày nay, trên thế giới ngày càng nhiều phụ nữ kết hôn muộn hoặc muốn có con muộn. Điều này khiến họ rơi vào tình trạng không thể sinh con bởi vì họ bị mãn kinh sớm hoặc do lớn tuổi. Chất lượng trứng thường bắt đầu giảm sau tuổi 35, bị nhiều tổn hại nghiêm trọng sau 40 tuổi và gần như bị suy giảm toàn bộ sau tuổi 43. Điều này là do một số bất thường của tế bào trứng, đặc biệt là với các trục chính phân bào giảm nhiễm, mà kết quả cho tỉ lệ phần trăm cao của phôi bất thường. Bên cạnh đó, còn có những phụ nữ không có buồng trứng do bị cắt buồng trứng bởi bệnh lý ở buồng trứng hoặc bị căn bệnh di truyền không thể có con bằng chính trứng của họ. Tất cả họ nếu muốn có con đều cần phải xin trứng làm TTTON. Chương trình TTTON bằng trứng hiến đã trở thành phổ biến hơn với những tiến bộ nhanh chóng trong công nghệ hỗ trợ sinh sản đã mang lại hạnh phúc lớn lao được làm mẹ cho những phụ nữ này. Tuy nhiên, nguồn trứng hiến thì thật khan hiếm không những ở các nước đang phát triển mà kể cả những nước phát triển.


Chia trứng - sẻ chia hạnh phúc, nhân đôi cơ hội

Ảnh minh hoạ

Trong khi đó, có nhiều phụ nữ trẻ tuổi, buồng trứng rất tốt và cần phải làm TTTON thì mới có con (nguyên nhân do chồng hoặc bị tắc 2 vòi trứng) nhưng đã không có đủ kinh phí để làm TTTON. Thêm vào đó, có một số phụ nữ làm TTTON có nhiều trứng dư thừa mà họ không cần dùng cho tương lai sau khi họ đã có thai và bị bỏ phí. Cần giải pháp nào cho vấn đề này? Xuất phát từ nhu cầu thực tế, chương trình chia trứng TTTON đã ra đời và ngày càng phát triển trên khắp thế giới, hàng năm đã có hàng ngàn phụ nữ được hưởng lợi từ phương pháp này. Chia trứng là 1 phương pháp điều trị TTTON kết hợp cho những phụ nữ có nhiều trứng (người chia trứng) với những phụ nữ không có trứng (người nhận trứng). Chia trứng cho phép 2 nhóm phụ nữ này giúp đỡ lẫn nhau - người chia trứng nhận được điều trị TTTON với chi phí thấp, trong khi đó người nhận trứng nhận được trứng cần cho họ làm TTTON với giá phải chăng. Các nghiên cứu đã được công bố chỉ ra rằng chia trứng không làm giảm cơ hội có thai của người chia trứng và việc có thai đồng thời giữa người chia trứng và người nhận là phổ biến.

Lợi ích của chương trình chia trứng làm TTTON

Chương trình chia trứng làm TTTON mang lại nhiều lợi ích với người chia trứng, người nhận trứng và với xã hội, đó là:
- Cung cấp điều trị TTTON miễn phí hoặc trợ cấp cho những phụ nữ đủ điều kiện trở thành người chia trứng.
- Cung cấp một lựa chọn an toàn cho những phụ nữ cần xin trứng.
- Giảm sự lãng phí trứng trong các trường hợp nhiều trứng và không sử dụng hết khi làm TTTON.
- Tránh được sự phụ thuộc vào những người cho trứng không phải là bệnh nhân. Do đó, loại trừ các rủi ro liên quan đến TTTON và can thiệp y tế không cần thiết cho nhóm phụ nữ này.
- Mang tính nhân đạo cao, thúc đẩy sự giúp đỡ lẫn nhau giữa những người phụ nữ hiếm muộn cần điều trị TTTON.
- Tiền đề cho việc thành lập ngân hàng trứng.

Đối tượng của chương trình chia trứng làm TTTON

 

Người xin trứng:

Chỉ định của người xin trứng:
- Không có buồng trứng hoặc đã bị cắt.
- Suy buồng trứng sớm nguyên phát hoặc thứ phát.
- Mãn kinh.
- Lớn tuổi.
- Vô sinh không rõ nguyên nhân.
- Thất bại IVF nhiều lần.
- Người bị sảy thai nhiều lần.
- Phụ nữ bị bất thường di truyền nghiêm trọng.
Chia trứng - sẻ chia hạnh phúc, nhân đôi cơ hội

Kỹ thuật đông trứng bằng phương pháp thủy tinh hóa ra đời với tỉ lệ trứng sống sau rã đông rất cao

Điều kiện của người xin trứng:

- Quy định về tuổi khác nhau giữa các nước: ở Anh và một số nước châu Âu, tuổi người xin trứng quy định là < 50 tuổi; ở Ấn Độ và một số nước khác là < 55 tuổi; riêng ở Hoa Kỳ thì không giới hạn tuổi người xin trứng.
- Có đủ sức khỏe có thể mang thai.
- Đã được tư vấn sẵn sàng về vấn đề chia trứng.
- Về mặt tài chính có thể đủ khả năng điều trị.

Người chia trứng:

Có nhu cầu điều trị TTTON và có dự trữ buồng trứng tốt.
Chia trứng không làm giảm cơ hội có thai của người chia trứng

Điều kiện của người chia trứng:
- Tuổi 18 - < 35 tuổi.
- Không có bệnh truyền nhiễm hoặc rối loạn di truyền.
- Xét nghiệm FSH/AMH đánh giá tình trạng của buồng trứng.
- Không hút thuốc lá ít nhất trong 3 tháng.
- Chỉ số khối cơ thể (BMI) <28.
- Không có tiền căn u buồng trứng, lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng.
- Không quá 2 lần IVF thất bại.

Cách tiến hành và kết quả của TTTON chia trứng trên thế giới

Các chi phí của IVF có thể là rào cản đối với một số bệnh nhân mong muốn có con khi mà IVF là phương pháp điều trị duy nhất có thể giúp họ có con. Nguyên nhân là do tắc 2 vòi trứng hoặc tinh trùng của chồng quá kém, trong khi đó, chức năng buồng trứng còn rất tốt.
Các chương trình chia trứng lần đầu tiên được tiến hành ở Hoa Kỳ khoảng năm 1988 với mục đích làm cho việc thực hiện TTTON giá cả phải chăng hơn. Đối với những người cho trứng đủ điều kiện, các chương trình chia trứng cung cấp một cách hợp lý để họ làm TTTON với chi phí giảm trong khi giúp đỡ được người khác một cách kín đáo. Đối với những người nhận, chương trình chia trứng giúp những người phụ nữ này thực hiện được thiên chức làm mẹ và sinh ra đứa trẻ có liên quan huyết thống với chồng mình mà chi phí cho những người nhận cũng được giảm đáng kể.
Còn ở Anh, những người cần xin trứng để làm TTTON phải chờ đợi trong thời gian rất dài do rất khan hiếm người cho trứng, rất nhiều phụ nữ Anh phải ra nước ngoài để xin trứng với chi phí rất cao. Trong khi chưa có giải pháp nào cho vấn đề này thì năm 1992, có bệnh nhân đến gặp BS. Kamal Ahuija và BS. Eric Simon tại phòng khám phụ khoa của họ ở Durham và đề nghị được chia trứng làm TTTON. Điều này là ý tưởng giúp cho 2 vị bác sĩ người Anh đi tiên phong trong vấn đề chia trứng ở Anh.
Trứng thường được chia đều giữa người chia trứng và người nhận, theo hợp đồng đã thỏa thuận trước. Trong trường hợp số trứng chia lẻ, ở Anh, trứng dôi ra sẽ được chia cho người chia trứng; còn ở Hoa Kỳ, trứng dôi ra sẽ được chia cho người nhận trứng. Khi trứng của người chia quá nhiều, sẽ được chia cho 2 người nhận (tối đa số người nhận được cho phép ở Anh và ở Hoa Kỳ là 2). Nếu không đủ trứng để chia (ít hơn 8 trứng), người chia trứng phải lựa chọn quyết định không chia trứng và giữ lại tất cả trứng cho mình, tuy nhiên, trong trường hợp này, họ phải trả phí IVF. Còn người xin trứng sẽ phải hủy chu kỳ và được hoàn trả phí đã thực hiện cho người chia trứng. Nghiên cứu của Efstratios (2003) cho thấy nếu giảm số lượng tế bào trứng tối thiểu cần thiết để thực hiện chia trứng từ 12 xuống 8 và chia các tế bào trứng bằng nhau giữa người cho và người nhận, đã làm giảm đáng kể tỉ lệ hủy bỏ chu kỳ, trong khi đó, tỉ lệ sinh sống của người cho và người nhận không bị ảnh hưởng.
Các nghiên cứu đã được công bố chỉ ra rằng chia trứng không làm giảm cơ hội có thai của người chia trứng và việc có thai đồng thời giữa người chia trứng và người nhận là phổ biến. Nghiên cứu (Ahuja và cộng sự, 1996; Zeynep và cộng sự, 2012) cho thấy: không có sự khác biệt về số lượng trung bình của trứng được chia, tỉ lệ thụ tinh hoặc số phôi chuyển trung bình và tỉ lệ sinh sống giữa người chia trứng và người nhận mặc dù tuổi người nhận cao hơn người chia trứng. Cơ hội có thai hoặc sinh sống của người chia trứng và người nhận cũng giống như bệnh nhân làm TTTON tiêu chuẩn. Người chia trứng cũng không có nguy cơ bị hội chứng quá kích buồng trứng cao hơn so với người làm TTTON tiêu chuẩn. Tại The Lister Fertility Clinic ở Anh, giai đoạn năm 2005 - 2012, kết quả của người chia trứng với tỉ lệ có thai 55,8% và tỉ lệ sinh sống 40,4%, tương đương với kết quả có thai ở phụ nữ <35 tuổi làm TTTON (tỉ lệ có thai 54,4% và tỉ lệ sinh sống là 41,2%). Số liệu thống kê của Trung tâm Sinh sản Herts & Essex từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2013 cũng cho thấy kết quả ở người chia trứng và người nhận rất cao với tỉ lệ có thai, thai lâm sàng và tỉ lệ sinh sống lần lượt là 56,3%, 42,5% và 40% ở người chia trứng; người nhận trứng là 64,4%, 55,6% và 45,6%.
Gần đây, kỹ thuật đông trứng bằng phương pháp thủy tinh hóa ra đời với tỉ lệ trứng sống sau rã đông rất cao, nghiên cứu của Krinos cho thấy: noãn đông lạnh bằng phương pháp thủy tinh hóa có thể cung cấp cùng một chất lượng phôi, thai và khả năng làm tổ giống trứng tươi. Với kết quả ấn tượng của phương pháp đông trứng thủy tinh hóa, bệnh nhân có thể làm một chu kỳ và sử dụng một số trứng tươi cho bản thân và sau đó đông trứng phần còn lại. Nếu họ có thai hoặc có một số lý do khác nên họ không muốn sử dụng những trứng đã đông lạnh, họ có thể hiến số trứng đông lạnh cho ngân hàng trứng (đây là tiền đề để thành lập ngân hàng trứng). Nếu hai vợ chồng không có thai, họ có thể sử dụng trứng đông lạnh của họ và chỉ phải trả phí bình thường để làm rã đông, thụ tinh, nuôi phôi và chuyển phôi. Ở Trung Quốc, những bệnh nhân làm TTTON có trên 20 trứng được khuyến khích thụ tinh tối thiểu 15 trứng với tinh trùng của chồng để tạo thành phôi. Số trứng còn dư sẽ được trữ đông bằng phương pháp thủy tinh hóa. Thông thường, những phụ nữ này sau khi sinh con khỏe mạnh và họ thường hiến số trứng trữ lạnh vào ngân hàng để cho các cặp vợ chồng hiếm muộn khác. Tỉ lệ có thai lâm sàng của trứng trữ hiến là 42,3%, tỉ lệ làm tổ là 25,5%. Không có bé bị dị tật bẩm sinh. Những kết quả này chỉ ra rằng trứng thủy tinh hóa là một phương pháp hiệu quả cho một chương trình chia trứng hiến với kết quả làm tổ và có thai chấp nhận được.
TS. VŨ MINH NGỌC
(Bệnh viện Từ Dũ)

Không nên cho trẻ bú một bên

/ No Comments
SKĐS - Tôi mới sinh con được 3 tháng, do bầu vú bên trái của tôi ít sữa hơn bên phải nên tôi hay cho bé bú ở vú bên phải nhiều hơn. Đến giờ bé đã quen và chỉ bú vú bên phải. Xin bác sĩ cho biết, bé thường xuyên bú một bên vú như vậy có sao không?

Chị đã vô tình tạo thói quen cho bé chỉ bú ở một bầu vú nhất định và thói quen này không hề tốt cho cả mẹ và bé. Với mẹ, việc bú một bên vú sẽ khiến cho bên bú thường xuyên càng nhiều sữa và bên còn lại vốn đã ít sữa lại càng trở nên khan hiếm hơn. Điều này khiến bé chỉ nhận đủ sữa từ một bên vú và lại chọn bú ở bên đó nhiều hơn. Một số bé có thể bỏ hẳn bầu vú không yêu thích khiến việc cân bằng hai bầu vú trở nên khó khăn.
Không nên cho trẻ bú một bên

Thói quen bú một bên sẽ khiến cho bên ít sữa ngày càng khan hiếm hơn.

Để khắc phục điều này, chị nên bắt đầu bằng việc chăm chỉ cho con bú bên ít sữa và bắt đầu các cữ bú bằng bầu vú này. Có thể ban đầu bé sẽ khó chịu nhưng nếu kiên trì thì bé cũng sẽ quen dần. Sau một vài ngày, nếu bé chịu khó bú đều bên bầu vú bị chê thì nguồn sữa sẽ được cải thiện.
Không nhất thiết phải luôn cho bé bú cả hai bầu sữa trong cùng một cữ bú. Nếu bé cảm thấy no sau khi bú một bên thì trong lần tiếp theo hãy cho bé bú bên còn lại, để đảm bảo cả hai bầu vú đều được kích thích và được bú cạn thường xuyên.
Nếu bé đã bú đủ lâu ở một bên bầu vú và vẫn còn đói thì bạn có thể cho bé bú tiếp bên kia. Trong lần bú tiếp theo, bạn nên cho bé bắt đầu ở bầu vú bé đã kết thúc trong lần bú trước. Ví dụ, nếu lần cuối bé đã bú bên phải rồi chuyển sang bên trái thì lần tiếp theo bạn nên bắt đầu từ bên trái rồi chuyển sang bên phải bởi các bé thường bú mạnh nhất ở bầu vú đầu tiên.
Bác sĩ Bùi Thị Phương

Tổn thương tử cung do nạo phá thai

/ No Comments
SKĐS - Nạo phá thai không an toàn và nhiều lần dễ gây tổn thương cổ tử cung, thủng tử cung, viêm dính buồng tử cung, là một trong những nguyên nhân dẫn đến vô sinh ở người phụ nữ.

Tổn thương tử cung do nạo phá thai

Phương pháp nạo phá thai đến nay đã có những tiến bộ lớn, tuy vậy vẫn không tránh được việc phải dùng dụng cụ bằng kim loại vào tử cung để thực hiện thủ thuật. Do đó việc nạo phá thai nếu không được thực hiện tại cơ sở y tế chuyên khoa đúng quy định an toàn rất dễ gây tổn thương tử cung, mất nhiều máu, nhiễm trùng, nhất là trong các trường hợp nạo hút nhiều lần, nguy hại sẽ không nhỏ, có thể xuất hiện các trường hợp sau:
Nếu nạo hút quá mức, lớp đáy màng trong tử cung bị tổn thương có thể dính liền lại với nhau, tuỳ mức độ tổn thương của niêm mạc tử cung có thể dẫn đến sự thay đổi về kinh nguyệt, gây cản trở quá trình thụ thai hoặc dễ sảy thai.
Khi tử cung bị nạo quá sâu hoặc bị nạo hút nhiều lần, nội mạc tử cung bị tổn thương và teo lại. Đến lần có thai tiếp sau đó, nội mạc tử cung do đã bị tổn thương và teo lại nên thường không thể lành lặn lại, phải bong ra lớp màng đáy để tiếp nhận phôi bào cấy vào, lông tơ ở bên ngoài phôi bào sẽ cấy sâu vào, thậm chí còn xâm phạm tới lớp cơ bên dưới của màng tử cung. Nhau thai được hình thành như vậy khó có thể tự nhiên tách ra được khỏi thành tử cung. Kết quả là sau khi sinh con, bộ phận nhau thai dính liền hoặc cấy sâu vào thành tử cung sẽ không thể bong ra được, ảnh hưởng đến sự thu co tử cung, hốc hõm máu ở thành tử cung chỗ bóc tách ra đó mở rộng ra sẽ gây xuất huyết nhiều, gây nguy hiểm cho sản phụ.
Vì vậy, để phòng ngừa những nguy hại do nạo phá thai, các cặp vợ chồng nên áp dụng biện pháp tránh thai an toàn, phù hợp nếu chưa muốn sinh con hoặc đã sinh đủ con. Trong trường hợp lỡ có thai ngoài ý muốn, cần  đến cơ sở y tế chuyên khoa uy tín để can thiệp sớm nhằm hạn chế các tai biến, biến chứng do nạo phá thai. Tuyệt đối không đến các phòng khám không được cấp phép hoặc nghe theo mách bảo tìm đến các “lang vườn” không có chuyên môn để nạo phá thai bằng nhiều hình thức khác nhau vì trên thực tế đã có rất nhiều trường hợp biến chứng nghiêm trọng, thậm chí tử vong do nạo phá thai bằng que, bằng thuốc xông thai,… xảy ra phần lớn ở các địa bàn miền núi, vùng sâu, xùng xa do nhận thức về chăm sóc sức khoẻ sinh sản của người dân còn hạn chế.
Bác sĩ Thu Lan
Đăng ký để được tư vấn miễn phí