TVV KÍNH CHÀO QUÝ KHÁCH

Menu

Browsing "Older Posts"

BÀI VIẾT "SỨC KHỎE"

Cơn thiếu máu cục bộ não thoáng qua: Dấu hiệu cảnh báo đột quỵ

/ No Comments
SKĐS - Cơn thiếu máu cục bộ não thoáng qua (TIA) giống như một cơn đột quỵ, có các triệu chứng tương tự đột quỵ, nhưng thường chỉ kéo dài vài phút và không gây tổn thương vĩnh viễn.
Cơn thiếu máu cục bộ não thoáng qua (TIA) giống như một cơn đột quỵ, có các triệu chứng tương tự đột quỵ, nhưng thường chỉ kéo dài vài phút và không gây tổn thương vĩnh viễn. Khoảng 1 trong 3 người có một TIA cuối cùng sẽ có một cơn đột quỵ, với khoảng một nửa xảy ra trong vòng một năm sau khi có cơn thiếu máu não thoáng qua. Một TIA có thể xem như là một cảnh báo và một cơ hội - cảnh báo về một cơn đột quỵ sắp xảy ra và cơ hội để thực hiện các bước để ngăn chặn đột quỵ.

Triệu chứng của TIA

Cơn thiếu máu não thoáng qua thường kéo dài một vài phút. Hầu hết các dấu hiệu và triệu chứng biến mất trong vòng một giờ. Các dấu hiệu và triệu chứng của TIA giống với những phát hiện sớm trong một cơn đột quỵ và có thể bao gồm khởi phát đột ngột với các dấu chứng, triệu chứng sau: yếu, tê hoặc liệt ở mặt, tay hay chân, thường ở một bên của cơ thể; líu lưỡi hoặc lời nói bị cắt bớt hoặc người khác khó hiểu; mù lòa ở một hoặc cả hai mắt hoặc nhìn đôi; chóng mặt hoặc mất thăng bằng hoặc phối hợp cả hai; mỗi người có thể có nhiều hơn một cơn TIA, các dấu hiệu và triệu chứng tái phát có thể giống hoặc khác nhau tùy thuộc vào khu vực của não bộ liên quan.
Khi nghi ngờ có một TIA, người bệnh cần đến cơ sở y tế ngay lập tức. Đánh giá kịp thời và xác định các rối loạn để điều trị có thể giúp ngăn ngừa đột quỵ.
Cơn thiếu máu cục bộ não thoáng qua: Dấu hiệu cảnh báo đột quỵ

Mảng vữa xơ trong lòng động mạch là thủ phạm gây TIA.

Mảng vữa xơ trong lòng động mạch - thủ phạm gây TIA

Một TIA có nguồn gốc tương tự như một cơn đột quỵ do thiếu máu cục bộ, là thể phổ biến nhất của đột quỵ. Trong một cơn đột quỵ thiếu máu cục bộ, cục máu đông làm nghẽn cung cấp máu cho một phần của bộ não. Trong TIA, không giống như một cơn đột quỵ, tắc nghẽn là tạm thời và không có tổn thương vĩnh viễn.
Nguyên nhân cơ bản của một TIA thường là một sự tích tụ của các mảng chứa cholesterol gọi là mảng xơ vữa trong lòng động mạch hoặc một trong các nhánh của động mạch, là nguồn cung cấp ôxy và chất dinh dưỡng cho não. Mảng xơ vữa có thể làm giảm lưu lượng máu qua động mạch hoặc dẫn đến sự hình thành của một cục máu đông. Một cục máu đông di chuyển đến một động mạch cung cấp cho não từ một phần khác của cơ thể, thường gặp nhất từ tim, cũng có thể gây ra một TIA.

Ai có nguy cơ bị TIA và đột quỵ?

 

Một số yếu tố nguy cơ của TIA và đột quỵ không thể thay đổi:

Lịch sử gia đình: Người có nguy cơ cao bị TIA và đột quỵ nếu trong gia đình đã có thành viên bị TIA hoặc đột quỵ.
Tuổi tác: Nguy cơ TIA và đột quỵ tăng khi già đi, đặc biệt là sau 55 tuổi.
Giới tính: Đàn ông có nguy cơ cao TIA và đột quỵ cao hơn nữ, nhưng hơn một nửa số ca tử vong do đột quỵ xảy ra ở phụ nữ.
Người đã từng có một hoặc nhiều TIA, nguy cơ bị đột quỵ cao gấp 10 lần người chưa từng bị TIA.
Người bị thiếu máu hồng cầu hình liềm: Đột quỵ là một biến chứng thường gặp của rối loạn di truyền này.
Chủng tộc: Người da đen có nguy cơ tử vong do đột quỵ cao hơn các chủng tộc khác, một phần là do họ có tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp và đái tháo đường cao hơn.
Cơn thiếu máu cục bộ não thoáng qua: Dấu hiệu cảnh báo đột quỵ

Chăm sóc bệnh nhân bị đột quỵ tại Bệnh viện Bạch Mai.       Ảnh: Trần Minh

Một số yếu tố nguy cơ của TIA và đột quỵ có thể thay đổi:

Tăng huyết áp: Nguy cơ đột quỵ bắt đầu với chỉ số huyết áp cao hơn 110/75mmHg. Cần gặp bác sĩ để có được huyết áp mục tiêu dựa vào độ tuổi, các bệnh kèm theo và các yếu tố khác.
Cholesterol cao: Ăn ít cholesterol và chất béo, đặc biệt chất béo bão hòa, có thể làm giảm các mảng xơ vữa trong động mạch.
Bệnh tim mạch: Suy tim, nhịp tim bất thường, hẹp động mạch cảnh...
Bệnh động mạch ngoại biên (PAD): Các mạch máu tay và chân bị hẹp tắc.
Bệnh đái tháo đường: Nồng độ homocystein cao; thừa cân và béo phì.
Do lối sống: Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ huyết khối, tăng huyết áp...;  giảm hoạt động thể chất, kém vận động; ăn quá nhiều chất béo và muối làm tăng nguy cơ TIA và đột quỵ; uống nhiều rượu; sử dụng cocain và ma túy; sử dụng thuốc tránh thai.

Điều trị TIA

Khi bác sĩ đã xác định nguyên nhân của cơn thiếu máu não thoáng qua, mục tiêu của điều trị là để điều chỉnh bất thường và ngăn ngừa đột quỵ. Tùy thuộc vào nguyên nhân của TIA, bác sĩ sử dụng một số loại thuốc để giảm khả năng bị đột quỵ sau một TIA. Các thuốc được lựa chọn phụ thuộc vào vị trí, nguyên nhân, mức độ nghiêm trọng và loại TIA. Hai loại thuốc hay dùng là: thuốc chống kết tập tiểu cầu như aspirin, clopidogrel; thuốc chống đông máu bao gồm heparin và warfarin; nếu có rung nhĩ, bác sĩ có thể kê toa một loại thuốc chống đông; phẫu thuật can thiệp động mạch cảnh tắc hẹp như nong mạch, đặt stent...

Lời khuyên của thầy thuốc

Để phòng ngừa TIA và đột quỵ, cần kiểm tra sức khỏe thường xuyên; không hút thuốc lá, không uống rượu; hạn chế cholesterol và chất béo; ăn nhiều trái cây và rau quả; hạn chế natri (muối); luyện tập thể dục đều đặn; duy trì trọng lượng cơ thể hợp lý; không sử dụng cocain và ma túy; kiểm soát bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp.

BS. Hoài Châu

8 thói quen ‘xấu” làm tổn hại trái tim

/ No Comments
SKĐS - Những thói quen “xấu” trong cuộc sống hàng ngày đôi khi đã ảnh hưởng đến sức khỏe nói chung và sức khỏe tim mạch nói riêng. Để tránh nguy cơ gây nên các bệnh lý tim mạch và muốn có trái tim khỏe mạnh thì hãy thay đổi ngay 8 thói quen xấu sau:
8 thói quen ‘xấu” làm tổn hại trái tim


Ngồi quá lâu

Bạn có tập thể dục thường xuyên không? Nếu có thì thật là tuyệt vời. Hàng ngày, do tính chất công việc phải ngồi lâu, không vận động thì hãy xem chừng! Cơ thể cần có những cử động dù chỉ cần rời khỏi ghế! Nếu làm việc ở văn phòng chỉ cần có những khoảng thư giãn ngắn, đủ giúp máu lưu thông tốt và giảm bớt đau lưng, đau vai gáy…

Nghĩ chuyện ấy còn quá sớm!

Nghĩ rằng vẫn còn thời gian, còn quá trẻ để chăm sóc bảo vệ trái tim là một trong những thói quen “xấu” đang phổ biến hiện nay.Tập thể dục, chế độ ăn uống lành mạnh, kiểm tra huyết áp, mức cholesterol máu, đường máu… là những thói quen tốt cần được duy trì. Thời gian lý tưởng để chăm sóc sức khỏe và trái tim, chính là bắt đầu ngay từ bây giờ!

Uống nhiều rượu bia

Nên uống rượu bia vừa phải (1ly đối với nữ và 2ly đối với nam giới mỗi ngày). Tuy nhiên, nếu lạm dụng rượu bia gây tăng huyết áp, tăng lipid máu…. Cho nên đây là lý do tại sao nên hạn chế nhằm giúp bảo vệ sức khỏe tim mạch.

Chế độ ăn uống không hợp lý, lành mạnh

Những thói quen xấu trong ăn uống có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, đôi khi trong các bữa ăn các món ít thay đổi và không đầy đủ các thành phần rau xanh, các loại đậu, trái cây….
Chế độ ăn Địa Trung Hải là sự lựa chọn hoàn hảo vì bao gồm những thực phẩm lành mạnh, gồm các chất béo “ tốt”, các chất xơ và chất dinh dưỡng…

Không làm xét nghiệm kiểm tra sức khỏe định kỳ

Mức cholesterol máu, mức huyết áp, đường máu …là bao nhiêu? Có thể bạn không quan tâm và không kiểm tra định kỳ, chính điều này khiến  bạn không nhận ra những thói quen xấu đã tác động đến các chỉ số này! Những xét nghiệm sẽ giúp bạn thấy những bệnh lý tiềm ẩn trong cơ thể. Nếu bạn trên 20 tuổi, khuyến khích nên kiểm tra mỗi 4-6 tháng.

Chu vi vòng eo quá lớn

Khi lượng mỡ thừa sẽ tích tụ ở vùng bụng, chính điều này không tốt cho tim mạch. Nếu chu vi vòng eo trên 88,9cm ở nữ và trên 101,6cm ở nam, đây là con số cần cảnh báo!
Nếu lúc nào đó bạn nghĩ cần giảm cân thì chỉ cần giảm một lượng nhỏ cũng đã tốt cho tim mạch.

Đừng quên sức khỏe tinh thần

Nếu cảm thấy lo âu, chán nản khó tập trung vào công việc, tốt nhất nên thư giãn, tham gia hoạt động thể dục thể thao…. Nếu bạn cảm thấy quá mệt mỏi, kiệt sức tốt nhất nên thăm khám bác sĩ chuyên khoa. Các bài tập thể dục, liệu pháp yoga, thiền định … là những giải pháp tốt giúp tâm trí thoải mái, phấn khởi…

Bạn là người hút thuốc lá thụ động

Hít khói thuốc lá từ người khác hút đôi khi còn nguy hiểm hơn chính bản thân hút. Khói thuốc lá ảnh hưởng đến tim và các mạch máu. Nếu phải thường xuyên tiếp xúc với người hút thuốc lá nên tránh xa. Tránh hút thuốc lá ở trong nhà, trong xe hơi hoặc văn phòng…
Bs Ái Thủy

Các bệnh lây truyền qua đường tình dục tàn phá sức khỏe sinh sản thế nào?

/ No Comments
Theo thống kê về tình dục an toàn, nhiều bệnh nhiễm trùng có thể dễ dàng lây truyền từ miệng qua bộ phận sinh dục hoặc từ bộ phận sinh dục qua miệng nhưng việc lây truyền từ miệng sang miệng rất ít xảy ra. Với HIV, chất dịch sinh dục là tác nhân gây bệnh dễ dàng hơn so với nước bọt. Một số bệnh lây qua đường tình dục cũng có thể lây truyền qua tiếp xúc da trực tiếp, ví dụ như: Herpes simplex và HPV. Virut Herpes có thể lây truyền qua nụ hôn sâu hoặc khi nước bọt được sử dụng như một chất bôi trơn tình dục.
Mọi hành vi tình dục có liên quan đến các chất dịch trong cơ thể đều chứa một số nguy cơ lây truyền các bệnh qua đường tình dục. Người ta chỉ chú ý tập trung vào HIV nhưng các bệnh hoa liễu khác cũng tiềm ẩn rất nhiều mối nguy hiểm.
Các chuyên gia y tế nhận thấy tình dục an toàn, chẳng hạn như việc sử dụng bao cao su là phương pháp đáng tin cậy nhất để giảm nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Những bệnh nào LTQĐTD?


Bệnh Chlamydia

Nếu người mẹ mang thai mắc bệnh Chlamydia thì có thể dễ dàng lây truyền sang cho con. Trẻ sinh ra ở người mẹ mắc bệnh Chlamydia có thể bị viêm phổi hoặc nhiễm trùng mắt từ khi sơ sinh.

Tất cả những người có hoạt động tình dục đều có thể bị nhiễm chlamydia. Ở các bạn tuổi  “teen” và phụ nữ trẻ, cổ tử cung chưa hoàn toàn trưởng thành nên rất dễ bị nhiễm trùng. Họ có nguy cơ đặc biệt cao đối với nhiễm trùng nếu sinh hoạt tình dục sớm. Đàn ông đồng tính cũng có nguy cơ lây nhiễm vì Chlamydia có thể lây truyền khi quan hệ tình dục  qua đường miệng hoặc hậu môn.

Bệnh Trichomonas (Trùng roi)

Bệnh trùng roi âm đạo do Trichomonas vaginalis nếu không được phát hiện, chữa trị kịp thời thì tình trạng viêm âm đạo kéo dài lâu ngày có thể gây nên các biến chứng như viêm buồng trứng, vòi trứng làm cho bệnh nhân đau đớn, có hiện tượng bị rong kinh; cổ tử cung cũng có thể bị viêm loét, đau, ngứa, niêm mạc sưng đỏ. Vô sinh cũng là một biến chứng thường gặp do trùng roi tiết ra chất nhày, tạo thành nút bao bọc và bít kín cổ tử cung, ngăn cản không cho tinh trùng xâm nhập vào để thụ tinh nên không thể thụ thai được. Ngoài ra, bệnh cũng có thể gây nên biến chứng viêm nhiễm đường tiết niệu với biểu hiện lâm sàng rõ hoặc không rõ. Ở một số trường hợp người phụ nữ bị bệnh trùng roi âm đạo, khi đi tiểu thường thấy đau buốt, có chất dịch mủ và tìm thấy ký sinh trùng trong nước tiểu.
Giang mai
Giang mai có thể gây ra nhiều biểu hiện và tổn thương ở khắp nơi của cơ thể tùy theo diễn tiến bệnh như  da, niêm mạc, cơ, xương, nội tạng, nhất là tim mạch và thần kinh. Có dạng giang mai bẩm sinh do mẹ lây qua con trong thời gian mang thai. Những bà mẹ khi mang thai chẳng may bị giang mai nhưng lại không điều trị cẩn thận hoặc không điều trị thì nguy cơ lây nhiễm cho đứa trẻ trong bụng là khó tránh khỏi.
Người mẹ nếu mắc bệnh giang mai trong thời kỳ mang thai, dễ sảy thai do xoắn khuẩn đi vào nhau thai gây viêm động mạch, dẫn đến tắc động mạch, nhau thai bị hoại tử làm cho thai nhi không nhận được chất dinh dưỡng và dẫn đến tình trạng sảy thai.

Bệnh lậu

Phụ nữ có thai bị bệnh lậu có nguy cơ cao về sẩy thai, nhiễm khuẩn ối hoặc chuyển dạ sớm. Trong quá trình chuyển dạ, nếu mẹ mắc bệnh lậu thì vi khuẩn của bệnh có thể truyền sang cho bé. Bệnh lậu sẽ ảnh hưởng đến mắt của bé sơ sinh, nếu không được điều trị, bé có thể bị mù. Ngoài ra, bệnh lậu từ mẹ có thể ảnh hưởng đến các phần khác trên cơ thể bé như nhiễm khuẩn máu, nhiễm khuẩn khớp gối và chứng viêm màng não.
Hình ảnh vi khuẩn gây bệnh lậu.

Hình ảnh vi khuẩn gây bệnh lậu.

Bệnh hạ cam

Bệnh này do trực khuẩn Ducrey gây ra. Triệu chứng là những vết loét đau, có mủ ở bên ngoài hoặc bên trong cơ quan sinh dục hoặc ở hậu môn, thường kèm theo nổi hạch ở bẹn. Nếu chỉ bị loét bên trong thì bạn không nhìn thấy vết loét, nhưng có thể tiểu buốt, đau khi đi ngoài và khi giao hợp, tiết dịch bất thường, chảy máu ở hậu môn. Bệnh này có thể dùng kháng sinh đặc hiệu để điều trị.
Mụn cơ quan sinh dục (còn gọi là HPV)
Là những mụn cóc nổi ở bất kỳ nơi nào trên cơ thể. Có nhiều dạng HPV, tất cả đều có thể gây sưng, ngứa ở cơ quan sinh dục hay hậu môn. Theo các chuyên gia, một số dạng HPV làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung ở phụ nữ.
HIV
Các triệu chứng thường xuất hiện sau nhiều năm nhiễm bệnh, gồm nhiễm trùng, sút cân, tiêu chảy, sốt, đổ mồ hôi đêm, mệt mỏi... Bệnh này thường lây qua quan hệ tình dục, gồm qua âm đạo, hậu môn, quan hệ tình dục đường miệng. Virut gây bệnh sẽ lây từ người này qua người khác ở tinh dịch, dịch âm đạo hay máu. Một số khác sẽ vào cơ thể người qua những vết trầy xước rất nhỏ.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên

Yếu tố nguy cơ của bệnh LTQ ĐTD là sinh hoạt tình dục không an toàn và mại dâm liên quan đến những vấn đề có tính chất toàn cầu như:
Thay đổi quan niệm về tình dục: Khác với trước kia nhiều nước được coi là tương đối  khắt khe về quan hệ tình dục trước hôn nhân nhưng hiện nay quan niệm này bị thay đổi dẫn đến việc quan hệ tình dục tự do, đặc biệt là các nước châu Á.
Thực hiện quan hệ 1 vợ 1 chồng để tránh mắc bệnh LTQĐTD.

Thực hiện quan hệ 1 vợ 1 chồng để tránh mắc bệnh LTQĐTD.
Lối sống thiếu lành mạnh, tệ  nạn mại dâm trở nên phổ biến ở nhiều nước phát triển và đang phát triển cũng là một yếu tố nguy cơ rất cao của bệnh LTQ ĐTD, đặc biệt là HIV/AIDS.
Bệnh LTQĐTD và nhiễm HIV/AIDS có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong đó nhiễm HIV/AIDS  là điển hình của bệnh LTQĐTD, có thể xem đây là hai bạn đồng hành. Khi bị bệnh LTQĐTD thì sẽ làm tăng nguy cơ lây truyền HIV; khi bị nhiễm HIV/AIDS sẽ làm cho việc điều trị các bệnh LTQĐTD sẽ trở nên khó khăn hơn, bệnh kéo dài hơn. Điều trị các bệnh LTQ ĐTD sẽ làm giảm lây nhiễm HIV đáng kể.
Hầu hết các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở giai đoạn đầu thường không có dấu hiệu rõ ràng. Điều này là nguyên nhân dẫn đến tình trạng bệnh nhân không biết mình đã mắc bệnh để đi khám kịp thời. Từ đó dẫn đến bệnh diễn biến nặng hơn, gây ra nhiều khó khăn khi điều trị và chi phí điều trị cũng tăng lên.

Lời khuyên của thầy thuốc

Khi cơ quan sinh dục có những biểu hiện bất thường sau, người bệnh nên tìm đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được khám và điều trị kịp thời:
Có dịch bất thường chảy ra từ âm đạo hoặc đầu dương vật, hoặc cơ quan sinh dục bị ngứa, đau, đỏ, rát  hoặc có các nốt, các vết loét bất thường; tiểu đau, buốt hoặc rát, hoặc tiểu nhiều hơn bình thường; đau bất thường ở vùng bụng dưới ở nữ giới  mà không liên quan gì đến chu kỳ kinh nguyệt. Nam giới sẽ bị tiết dịch niệu đạo nhưng số lượng không nhiều. Những dịch này thường nhầy và có màu trắng đục hoặc vàng. Trên da có nhiều mụn cóc, hoặc các mụn phỏng rộp đau, chảy nước, hoặc có lốm đốm đỏ, hay các u nhọt quanh miệng hoặc cơ quan sinh dục hoặc nổi hạch ở vùng bẹn; đau khi giao hợp ở nữ hoặc có ra máu sau quan hệ tình dục...
Trong quá trình điều trị, người bệnh cần kiêng quan hệ tình dục để tránh bệnh dễ lây lan, có thể dẫn đến nhiễm khuẩn kép, làm cho bệnh càng nặng thêm. Cần thực hiện quan hệ một vợ một chồng, chung thủy, không quan hệ tình dục bừa bãi để tránh mắc lậu và nhiều căn bệnh xã hội nguy hiểm khác, đặc biệt là HIV/AIDS.

PGS.TS.Nguyễn Duy Hưng
Đăng ký để được tư vấn miễn phí